11 Cách tăng chiều cao cho trẻ11 Cách tăng chiều cao cho trẻ11 Cách tăng chiều cao cho trẻ
Trang chủCẩm nang cho béSự tăng trưởng thể chất ở trẻ em

Sự tăng trưởng thể chất ở trẻ em

Sự tăng trưởng thể chất ở trẻ em thường được đánh giá vào sự thay đổi của cân nặng, chiều cao cùng sự phát triển của não, xương, phần mềm và răng…

Sự tăng trưởng thể chất ở trẻ em
Sự tăng trưởng thể chất ở trẻ em

Chỉ số tăng trưởng theo các mốc phát triển của trẻ em

Các mốc phát triển của trẻ em có bốn chỉ số tăng trưởng chính, đó là: 

Cân nặng/tuổi

Chỉ số này nói lên tình trạng hiện tại của trẻ. Cân nặng thường thay đổi nhanh, qua đó, ta có thể theo dõi sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ, nhất là khi theo dõi diễn biến cân nặng qua nhiều tháng liên tiếp. Trẻ có bắp thịt chắc nịch thường khỏe hơn trẻ to bệu.

Việc theo dõi diễn biến của cân nặng có thể giúp:

  • Phát hiện sớm tình trạng suy dinh dưỡng trước khi có các triệu chứng lâm sàng.
  • Theo dõi và đánh giá mức độ mất nước trong cơ thể trẻ.
  • Có biện pháp phòng tránh và giáo dục y tế cho các bà mẹ như điều chỉnh chế độ ăn, thay đổi thức ăn bổ sung…
  • Đánh giá tình hình dinh dưỡng chung.

Trong tuần đầu sau sinh, trẻ có hiện tượng sụt cân sinh lý, nhưng không quá 10% cân nặng lúc sinh. Trẻ được bú sữa non của mẹ ngay trong giờ đầu thì hiện tượng sụt cân sinh lý càng ít. Sau một tuần, trẻ lấy lại cân nặng ban đầu. Với trẻ sinh non, hiện tượng này chậm hơn. Trẻ bú mẹ tăng cân nhanh: mỗi ngày trẻ tăng tối thiểu:

  • 25 gam trong 3 tháng đầu
  • 20 gam từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 6
  • 20 gam từ tháng thứ 7 đến tháng thứ 9
  • 15 gam từ tháng thứ 10 đến tháng thứ 12
  • Trung bình trẻ nặng gấp đôi lúc sanh khi 5 tháng tuổi; gấp 3 lúc 12 tháng và gấp 4 lúc 24 tháng. Sau 2 tuổi tốc độ tăng cân chậm dần trung bình mỗi năm trẻ tăng 2 kg. Trẻ sáu tuổi nặng 20 kg.
  • Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng như di truyền, dinh dưỡng, nội tiết… nhưng ở trẻ dưới 5 tuổi thì yếu tố dinh dưỡng tác động mạnh hơn di truyền. Do đó, đối với trẻ dưới 5 tuổi, có thể dùng chung các giá trị chuẩn trên toàn thế giới. Yếu tố dinh dưỡng sẽ thay đổi các chỉ số đặc trưng đánh giá dinh dưỡng theo một cách khác với tác động của yếu tố nội tiết: yếu tố nội tiết bất thường sẽ làm giảm chỉ số chiều cao/tuổi trước hay đồng thời với chỉ số cân nặng/tuổi, trong khi chỉ số cân nặng/chiều cao vẫn bình thường hay lại tăng. Yếu tố dinh dưỡng kém sẽ làm giảm chỉ số cân nặng/tuổi trước khi giảm chỉ số chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao. Do đó, theo dõi sự biến đổi hình thái của các chỉ số đặc trưng đánh giá tăng trưởng cho phép phân biệt ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau lên sự tăng trưởng.
  • Theo dõi sự biến đổi hình thái của các chỉ số đặc trưng đánh giá tăng trưởng cho phép phân biệt ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau lên sự tăng trưởng của một cá nhân hay một cộng đồng trẻ em tại địa phương hay cả quốc gia.

Chiều cao/tuổi

Chiều cao là một trong những chỉ số tăng trưởng chính. Đường biểu diễn chiều cao phản ánh cuộc sống trong quá khứ và là bằng chứng của tình trạng dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng kéo dài 2 – 3 tháng sẽ làm chậm phát triển chiều cao. Chiều cao ít thay đổi và ổn định.

Thai nhi 6 tháng dài khoảng 35 cm. Sau đó, mỗi tháng thai nhi tăng 5 cm.

  • Trẻ sơ sinh dài khoảng 48-50 cm
  • Năm thứ 1, trẻ tăng từ 20-25 cm (3 tháng đầu tăng 10-12 cm)
  • Năm thứ 2, trẻ tăng 12 cm
  • Năm thứ 3, trẻ tăng 9 cm
  • Năm thứ 4, trẻ tăng 7 cm. Trẻ 4 tuổi cao 1 m
  • Sau 4 tuổi, trung bình trẻ tăng 5 cm mỗi năm.

Khi dậy thì, chiều cao tăng nhanh (như trong 2 năm đầu). Chiều cao của cha mẹ có ảnh hưởng đến chiều cao của con. Đây là số liệu dùng để ước lượng chiều cao khi chúng ta cần đánh giá đứa trẻ mà không có biểu đồ tăng trưởng. Tuy các số liệu này có độ chính xác kém hơn nhưng vẫn chấp nhận được.

Tỉ lệ các phần của cơ thể được mô tả thông qua các chỉ số sau: chiều cao thân, chiều cao ngồi, chiều dài chi dưới. Chiều cao thân trẻ em tương đối dài hơn so với chiều cao đứng. Thân bé sơ sinh gần bằng 45% chiều dài cơ thể. Đến tuổi dậy thì tỉ lệ này khoảng 38%. Tỉ lệ chiều cao ngồi/chiều cao đứng cũng giảm dần theo tuổi. Tỉ lệ chiều dài chi dưới/chiều cao đứng thông qua đánh giá chỉ số Skelie = (cao đứng – cao ngồi) × 100.

Chỉ số Skelie tăng dần theo tuổi:

  • 1 tuổi = 59,5%
  • 2 tuổi = 63%
  • 3 tuổi = 70%
  • 4 tuổi = 74,5%
  • 5 tuổi = 76,6%
  • 6 tuổi = 79%
Tóm lại: theo sự tăng trưởng thể chất ở trẻ em, tỉ lệ các phần của cơ thể thay đổi theo khuynh hướng đầu nhỏ lại, thân ngắn và chi dài ra.
Tóm lại: theo sự tăng trưởng thể chất ở trẻ em, tỉ lệ các phần của cơ thể thay đổi theo khuynh hướng đầu nhỏ lại, thân ngắn và chi dài ra.

Cân nặng/chiều cao

Chỉ số cân nặng/chiều cao thường sử dụng nhất là chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index) hay BMI. BMI = cân nặng (kg)/chiều cao đứng 2 (m).

Trẻ em có BMI trên 85% bách phân vị BMI nhóm chuẩn có nguy cơ hay đang trở nên quá cân.

Trẻ em có BMI trên 95% bách phân vị BMI nhóm chuẩn bị quá cân.

Vòng đầu/tuổi

Đo vòng đầu cho phép đánh giá khối lượng của não. Cách đo vòng đầu: phía trước ngang lông mày, hai phía bên phía trên vành tai, phía sau ngang ụ chẩm.

Tốc độ tăng trưởng vòng đầu: Khi sinh, não nặng 350 gam. Một tuổi não nặng 900 gam. 6 tuổi, não nặng 1.300 gam (bằng người lớn).

Khi trẻ 1 tuổi, não gần hoàn chỉnh nhưng mọi hoạt động chưa cân bằng. Năng lực của não còn phụ thuộc rất nhiều vào các kích thích ta sử dụng qua giáo dục.

Ngoài bốn chỉ số tăng trưởng chính, còn có một số tiêu chí khác về phát triển thể chất ở trẻ em. Đó là:

  • Sự phát triển phần mềm: Khối lượng các bắp thịt phản ánh tình trạng dinh dưỡng. Thường từ 1-5 tuổi, bắp thịt cánh tay ít thay đổi và vòng cánh tay, đo giữa hai khớp vai và khuỷu, độ 14-16 cm, nếu dưới 12 cm, trẻ bị suy dinh dưỡng nặng.
  • Sự phát triển của răng: Mầm răng được hình thành trong 3 tháng đầu bào thai. Sau khi được sinh ra, răng còn nằm trong xương hàm và chỉ nhú lên lúc trẻ được 6 tháng. Những răng đầu tiên được gọi là răng sữa. Đây là răng tạm thời, được mọc theo thứ tự nhất định.Từ 6 – 30 tháng trẻ có đủ 20 răng sữa.Tổng số răng vĩnh viễn là 32. Trong thời gian mọc răng, trẻ có thể sốt nhẹ, rối loạn giấc ngủ, ăn kém… Đếm số răng, có thể ước lượng tuổi của trẻ. Các bệnh suy dinh dưỡng, còi xương, có thể làm cho răng chậm mọc.
  • Sự phát triển các điểm cốt hóa ở khớp xương: Cũng tương xứng với tuổi và được dùng để chẩn đoán tuổi. Các đường nối giữa đầu và thân xương được hàn kín ở tuổi dậy thì và đánh dấu sự kết thúc của chiều cao. X-quang xương cho phép đếm các điểm cốt hóa để ước lượng tuổi của trẻ. Thường ứng dụng trong chẩn đoán bệnh nhược giáp bẩm sinh, dùng trong pháp y để chẩn đoán tuổi thật.

Cách sử dụng biểu đồ tăng trưởng của who

Để sử dụng biểu đồ tăng trưởng của WHO, chúng ta cần thực hiện ba bước:

  • Cân, đo chính xác: Trẻ nên cởi quần áo hoặc chỉ mặc ít quần áo mỏng, nhẹ. Lý tưởng nên sử dụng cân điện tử. Cần chỉnh cân chính xác.
  • Sử dụng đúng biểu đồ theo tuổi và giới: Trẻ dưới 2 tuổi nên dùng thước đo nằm, chiều dài thước 0-85 cm, cần hai người đo, đầu của trẻ ở phía đầu cố định của thước, giữ hai gối trẻ để chân trẻ thẳng, đo chính xác đến 0,5 cm. Trẻ trên 2 tuổi thì dùng thước đo đứng, trẻ đi chân trần, hai bàn chân để song song nhau, Gót, mông, vai, ụ chẩm của trẻ chạm vào tường, Giữ thẳng đầu, mắt nhìn ngang
Đo trẻ dưới 2 tuổi
Đo trẻ dưới 2 tuổi
  • Cách đo vòng đầu: phía trước ngang lông mày, hai phía bên phía trên vành tai, phía sau ngang ụ chẩm.

Một số bất thường về phát triển thể chất thường gặp ở trẻ

Suy dinh dưỡng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng:

  • Yếu tố môi trường: trẻ thiếu sự quan tâm của gia đình xã hội, trẻ có mẹ bị trầm cảm, tình trạng kinh tế xã hội kém, gia đình không biết cách cho ăn… 
  • Bệnh hệ tiêu hóa: cystic fibrosis và các bệnh khác gây tiết dịch tụy không đầy đủ, bệnh Celiac, trào ngược dạ dày thực quản, các hội chứng khác làm giảm hấp thu…
  • Bệnh bẩm sinh: bất thường nhiễm sắc thể, đột biến gen, tim bẩm sinh, bất thường bẩm sinh hệ tiêu hóa (hẹp môn vị…), bệnh vòng mạch, tắc nghẽn đường hô hấp trên, sâu răng, hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh…
  • Bệnh nhiễm trùng: HIV, lao, viêm gan, nhiễm trùng tiểu, viêm xoang mạn, nhiễm ký sinh trùng… 
  • Bệnh chuyển hóa: bệnh tuyến giáp, bệnh tuyến thượng thận, bệnh tuyến yên, bất thường acid amin niệu, acid hữu cơ niệu, Galactosemia… 
  • Bệnh thần kinh: bại não, u hệ thần kinh trung ương và u vùng hạ đồi, các hội chứng giảm trương lực cơ, bệnh lý thần kinh cơ, các bệnh lý thoái hóa và lưu trữ… 
  • Bệnh lý thận: suy thận mạn, bệnh lý ống thận, nhiễm trùng tiểu… 
  • Bệnh lý huyết học: bệnh hồng cầu hình liềm, thiếu máu thiếu sắt…

Tác hại của khi bé bị suy dinh dưỡng

Tác hại của bệnh suy dinh dưỡng nặng nếu bệnh xuất hiện sớm lúc các cơ quan đang trưởng thành bao gồm: 

  • Suy dinh dưỡng nặng và kéo dài ở thời kỳ bào thai và dưới 12 tháng ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ.
  • Suy dinh dưỡng nặng và kéo dài lúc 3 tuổi sẽ làm cho trẻ giảm cân nặng và chiều cao.
  • Trong ba chỉ số cân nặng chiều cao và trí tuệ, chỉ có cân nặng là thay đổi nhanh nhất, sớm nhất và phục hồi sau điều trị. Vì vậy, theo dõi cân nặng hàng tháng sẽ giúp phát hiện sớm bệnh và giúp đánh giá kết quả điều trị.

Thừa cân và béo phì

Nguyên nhân

Khoảng 95% thừa cân và béo phì ở trẻ em là do chế độ dinh dưỡng không hợp lý. Ngoài ra, còn có các nguyên nhân bệnh lý dẫn đến thừa cân và béo phì, gồm có hội chứng Alström, hội chứng Carpenter, hội chứng Cushing, hội chứng Fröhlich, tăng tiết insulin quá mức, Laurence-Moon-BardetBiedl, loạn dưỡng cơ, hội chứng Prader-Willi, hội chứng Turner (46, XO).

Tác hại của việc béo phì

Người thừa cân và béo phì có nguy cơ bệnh tim mạch, tiểu đường nhóm 2, tăng huyết áp, tăng lipid máu và bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu cao hơn người có cân nặng bình thường. Hội chứng chuyển hóa (béo phì, tăng huyết áp, không dung nạp glucose và tăng lipid máu) làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong. Béo phì có liên quan đến hiện tượng viêm mạn tính. Nồng độ adiponectin (peptide có đặc tính chống viêm) giảm ở bệnh nhân béo phì so với người cân nặng bình thường. Hơn nữa, nồng độ các peptid tiền viêm (như interleukin IL-6) và yếu tố hoại tử khối u TNF-α cao hơn ở bệnh nhân béo phì. Ngoài ra, béo phì còn gây ra ngưng thở khi ngủ, biến chứng chỉnh hình và các vấn đề sức khỏe tâm thần.

Một số câu hỏi thường gặp về sự tăng trưởng thể chất và dinh dưỡng

Hỏi: Làm sao tôi biết được con tôi phát triển bình thường hay bất thường?

Đáp: Đầu tiên, phụ huynh hãy cân đo trẻ mỗi tháng. Sau đó, dùng biểu đồ tăng trưởng để theo dõi số đo của trẻ. Biểu đồ tăng trưởng thường được in trong sổ sức khỏe của trẻ. Khi sử dụng biểu đồ tăng trưởng, hãy chú ý hai phần sau:

  • Chỉ số tăng trưởng của trẻ có bình thường so với lứa tuổi hay không?
  • Sự tăng trưởng thể chất của trẻ có tiến triển theo tốc độ bình thường hay không?

Hỏi: Làm sao để phòng ngừa suy dinh dưỡng?

Đáp: Phụ huynh nên tham gia các lớp huấn luyện cha mẹ biết cách sử dụng các thức ăn có sẵn tại địa phương để nấu ăn cho trẻ đủ các chất cần thiết. Đồng thời cần theo dõi các chương trình về sức khỏe, dinh dưỡng trên các phương tiện truyền thanh truyền hình, báo chí. Gia đình nên trồng thêm cây ăn trái để cung cấp trái cây tươi cho trẻ ăn dặm, song song với phát triển mô hình vườn ao chuồng trong nhân dân để cải thiện thành phần dinh dưỡng trong bữa ăn.

Hỏi: Làm sao để phòng ngừa béo phì và thừa cân?

Đáp: Béo phì và thừa cân làm trẻ dễ bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu… Do đó, phụ huynh cần hạn chế cho trẻ ăn mỡ động vật, không ăn nhiều muối, nên cho trẻ ăn nhiều rau quả, thức ăn có chứa chất xơ. Ngoài ra, phụ huynh cần tránh các thói quen ăn uống có hại như ăn quá mặn, ăn các loại gỏi thịt tái nem chua dễ bị giun sán, ăn quá nhiều vào ngày đám tiệc, ăn thức ăn sống chưa qua chế biến có nhiều thuốc trừ sâu có thể gây ngộ độc…

Tài liệu tham khảo

  1. Hoàng Trọng Kim (2007). Nhi khoa – Chương trình Đại học – Tập 1. Nhà xuất bản Y

học, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.46-61.

  1. Kliegman RM (2016). Nelson textbook of pediatrics. Elsevier, Philadelphia, 20th ed.
  2. WHO (2019), “Weighing and Measuring a Child “.
  3.  WHO (2019), “Training Course on Child Growth Assessment”.

Cố vấn chuyên môn

(*) Bác sĩ chỉ tư vấn về mặt chuyên môn, không xếp hạng thứ tự sản phẩm có trong bài viết. Việc xếp hạng sản phẩm theo đánh giá của người dùng từ các sàn thương mại điện tử như Shopee, Lazada, Tiki tại Việt Nam

Bài viết được Lonton thực hiện hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể nhận được hoa hồng từ sàn thương mại điện tử khi người dùng mua hàng qua các đường link trên website Lonton

Bài viết liên quan

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Bài viết nổi bật

Bình luận